Thứ tư, 26/11/2014
TRANG CHỦSƠ ĐỒ SITEWEBSITE QUẬNTHƯ VIỆN BÀI GIẢNGTHƯ VIỆN TƯ LIỆU
Số người truy cập
Trang: Kinh nghiệm dạy và học
In tin bài    Email tin bài
Các giải pháp dạy phép nhân, phép chia các số tự nhiên môn toán lớp 3 
 

1.Về việc dạy giai đoạn chuẩn bị:

      Trước khi học phép tính mới( phép nhân, phép chia) học sinh đều có giai đoạn chuẩn bị. Đây là cơ sở cho việc hình thành kiến thức mới, cầu nối giữa kiến thức đã học và kiến thức sẽ học. Vì vậy, khi dạy học các bài học trong giai đoạn này, giáo viên cần chuẩn bị tốt kiến thức cho học sinh để làm cơ sở vững chắc cho các em học những kiến thức mới tiếp theo. Cụ thể là:

     - Học sinh được học bài “ Tổng của nhiều số ’’ trước khi học bài “ Phép nhân ”. ởđây học sinh được tính tổng các số hạng bằng nhau. Giáo viên phải lưu ý để nhận ra các tổng này đều có các số hạng bằng nhau để giúp học sinh học bài phép nhân, tính kết quả của các phép nhân trong các bảng nhân( nhất là các bảng nhân đầu tiên).

    - Học sinh được học bài “Phép nhân” và các bài về bảng nhân trước khi học bài “Phép chia” và các bài về bảng chia. Giáo viên lưu ý học sinh phải học thuộc bảng nhân để làm cơ sở học các bảng chia, vì các bảng chia đều được xây dựng từ các bảng nhân tương ứng.

    - Việc nhân ,chia trong bảng thành thạo cũng là cơ sở để học sinh học tốt nhân, chia ngoài bảng.

2. Về việc sử dụng đồ dùng trực quan trong từng giai đoạn lập bảng nhân, bảng chia:

    Kĩ thuật chung của nhân, chia trong bảng là: Học sinh thao tác trên các tấm bìa có các chấm tròn. Vì vậy, sử dụng đồ dùng trực quan ở đây là rất quan trọng. Tuy nhiên mức độ trực quan không giống nhau ở mỗi giai đoạn:

    - Ở lớp 3( học kỳ 1): Học sinh tiếp tục học các bảng nhân, bảng chia 6, 7, 8, 9. Lúc này các em đã coa kinh nghiệm sử dụng đồ dùng học tập( các miếng bìa với số chấm tròn như nhau, đã quen và thành thạo với cách xây dựng phép nhân từ những miếng bìa đó. Hơn nữa, lên lớp 3 trình độ nhận thức của học sinh phát triển hơn trước ( khi học lớp 2) nên khi hướng dẫn học sinh lập các bảng nhân hoặc bảng chia, giáo viên vẫn yêu cầu học sinh sử dụng các đồ dùng học tập nhưng ở mức độ nhất định, phải tăng dần mức độ khái quát để kích thích trí tưởng tượng, phát triển tư duy cho học sinh. Chẳng hạn:

     Giáo viên không cùng học sinh lập các phép tính như ở lớp 2 mà chỉ nêu lệnh để học sinh thao tác trên tấm bìa với các chấm tròn để lập 3, 4 phép tính trong bảng, các phép tính còn lại học sinh phải tự lập dựa vào phép đếm thêm hoặc dựa vào các bảng nhân đã học.

    VD: Khi hướng dẫn học sinh Bảng nhân 6, giáo viên yêu cầu học sinh sử dụng các tấm bìa, mỗi tấm bìa có 6 chấm tròn để lập các phép tính:

6         x  1  =  6

6   x2    =  12                                                                                             6   x  3  =  18              

     Sau đó cho học sinh nhận xét để từ 6  x  2  =  12 suy ra được 6  x  3  =  18. Cụ thể là: Với 3 tấm bìa

Học sinh nêu : “6 được lấy 3 lần, ta có 6 x 3”

Mặt khác cũng từ 3 tấm bìa này ta thấy 6 x 3 chính là 6 x 2 + 6

Vậy 6 x 3 = 6 x 2 + 6 = 18

Bằng cách như vậy, học sinh có thể không dùng tấm sìa mà vẫn tự tìm được kết quả cùa phép tính:

                                                   6 x 4 = 6 x 3 + 6 = 24

                                                            6 x 5 = 6 x 4 + 6.....

Hoặc dựa trên bảng nhân đã học:

                                                            6 x 4 = 4 x 6 = 24

                                                            6 x 5 = 5 x 6.....

Như vậy, giáo viên cần lưu ý sử dụng đồ dùng trực quan hợp lí, đúng mức để không chỉ giúp học sinh nắm được kiến thức mà còn phát triển tư duy.

 

3. Về phương pháp nhân, chia ngoài bảng:

      Phương pháp chủ yếu được sử dụng là làm mẫu trên các ví dụ cụ thể. Từ đó học sinh nắm được cách đặt tính và tính. Đối với những trường hợp cần lưu ý như : phép chia có chữ số o ở thương, ước lượng thương chưa hết, nhớ khi nhân chưa đúng... giáo viên thường đưa ra các bài tập dưới dạng điền đúng – sai để lưu ý học sinh cách làm đúng.

      Tóm lại: Với nội dung về phép nhân, phép chia các số tự nhiên ở lớp 3, để hình thành kiến thức mới cho học sinh thì phương pháp chủ yếu là trực quan kết hợp làm mẫu; để rèn kĩ năng thì phương pháp chủ yếu là thực hành- luyện tập. Tuy nhiên, trong quá trình học sinh thực hành luyện tập, giáo viên phải tăng dần mức độ, yêu cầu, độ khó của bài tập; tạo điều kiện cho học sinh tự huy động kiến thức sẵn có để làm bài; đồng thời rèn cho học sinh khả năng tự kiểm tra, đánh giá mình và đánh giá lẫn nhau.

      Như vậy, khi sử dụng phương pháp dạy học phép nhân, phép chia số tự nhiên ở lớp 3 người ta đã quan tâm đến đặc đểm nhận thức của học sinh( tư duy cụ thể phát triển hơn tư duy trừu tượng, tri giác bằng nhiều giác quan..) và đã có sử dụng nhiều phương pháp dạy học kích thích tư duy trừu tượng, khả năng so sánh, khái quát hóa, tổng hợp hóa... cho học sinh.  

    Trên cơ sở những nhận thức của giáo viên như trên, tìm hiểu về phương pháp dạy học để rèn kĩ năng thực hiện phép nhân, phép chia cho học sinh, tôi rút ra một số ưu nhược điểm của giáo viên trong quá trình giảng dạy như sau:

*Ưu điểm:

      Các giáo viên đều nhận thấy tầm quan trọng của việc dạy học nội dung phép nhân, phép chia các số tự nhiên; nắm được chương trình, định hướng chung về phương pháp dạy học các nội dung này.Vì vậy:

      a- Giáo viên đã sử dụng phương pháp trực quan(nhất là trong giai đọan đầu), giảng giải - minh họa, gợi mở - vấn đáp khi hình thành khái niệm phép tính; khi thành lập các bảng tính; hướng dẫn học sinh làm bài tập để định hướng cho học sinh làm bái.

      b- Giáo viên thường xuyên sử dụng phương pháp Thực hành luyện tập trong quá trình rèn luyện kĩ năng thực hiện phép nhân, phép chia các số tự nhiên cho học sinh.   

Điều này rất thuận lợi cho cả giáo viên và học sinh: giáo vên không phải giảng nhiều, còn học sinh có điều kiện rèn luyện kĩ năng cho mình.

      c- Giáo viên bám sát và theo dõi từng bước thực hiện tính của học sinh, có biện pháp sửa sai kịp thời.

      d- Một số giáo viên có những điều chỉnh, phân tích rất kĩ, mở ra các hướng mới đối với bài tập rèn luyện kĩ năng tính đưa ra trong sách giáo khoa( chẳng hạn dạy qua các trò chơi). Trong quá trình giảng dạy giáo viên biết lựa chọn bài tập hợp lí tùy theo đối tượng học sinh.

* Nhược điểm:

       Bên cạnh những ưu điểm kể trên, khi dạy học để rèn kĩ năng nhân, chia cho học sinh lớp 3, về phía giáo viên còn một số tồn tại như sau:

a- Một số giáo viên không nắm được bản chất toán học của các nội dung về phép nhân, phép chia các số tự nhiên nên còn máy móc trong giảng dạy các nội dung này.Giáo viên chư chú ý phân tích và khai thác triệt để mục tiêu mỗi bài tập rèn luyện kĩ năng tính cho học sinh.

b- Việc dạy học theo định hướng đổi mới chưa được nhiều giáo viên chú trọng:

       - Trong quá trình hình thành các phép tính nhân, chia ngay sau khi giảng giải và

hỏi- đáp , giáo viên thường rút ra công thứ phép toán nhưng ít chú ý đến việc cho học sinh nhắc lại hoặc tự rút ra kiến thức mới:

   VD: Trong những bài về nhân, chia ngoài bảng, sau khi đã cho học sinh thấy:

                   

4

601

00

07

3

x

                      1427                                                2407

                            3

                      4281

       Nhiều giáo viên không cho học sinh tự củng cố lại: cách đặt tính như thế nào? thực hiện phép nhân, chia theo thứ tự ra sao?...Vì thế học sinh rất dễ mắc sai lầm khi thực hiện tính, đặc biệt là đối với những phép chia có số 0 ở thương.

      Chỉ qua một số ví dụ trong bài mới thì học sinh rất khó nắm bắt được khái niệm phép toán, cách đặt phép toán, cách đặt tính , cách tính... nên học sinh thường làm sai. Do đó, giáo viên cần thường xuyên củng cố lại kiến thức trong suốt quá trình học sinh thực hành luyện tập.

     - Nhiều giáo viên cho học sinh luyện tập với không khí buồn tẻ, do đó có nhiều dạng bài tập lặp lại mà giáo viên không đổi mới các hình thức chữa bài chủ yếu chữa bài một cách đơn điệu: học sinh đứng đọc bài làm hoặc lên bảng làm bài và lớp chữa. Vì vậy, không kích thích được hứng thú học tập của học sinh.

     - Nhiều giáo viên lạm dụng phương pháp thực hành luyện tập để rèn luyện kĩ năng tính cho học sinh, yêu cầu học sinh làm nhiều bài tập mà chưa chú ý đến những khó khăn của học sinh để giảng giải cho các em hiểu.

     - Nội dung phép nhân, phép chia số tự nhiên trong toán 3 là nội dung mới. Để khắc sâu kiến thức, rèn luyện kĩ năng tính toán cho học sinh, sách giáo khoa đưa ra những dạng bài tập tương tự nhau, đặc biệt là trong các bài học về nhân, chia trong bảng. Chẳng hạn: các bài học về bảng nhân có 3 dạng bài tập:

                            + Tính nhẩm (các phép nhân trong bảng)

                                 + Toán có văn( giải bằng một phép tính nhân)

                                 + Đếm thêm

     Nhiều giáo viên chỉ vận dụng lặp lại phương pháp thực hành luyện tập quen thuộc, không chịu đổi mới phương pháp.

4. Một số thuận lợi và khó khăn, sai lầm học sinh thường gặp khi học phép nhân, phép chia các số tự nhiên ở lớp 3.

* Thuận lợi:

     a- Do các bài học và bài tập về phép nhân, phép chia các số tự nhiên ở lớp 3 được trình bày một cách khoa học, chính xác; cấu trúc các bài tương đối giống nhau nên nếu nghỉ học, nhờ vào việc đọc bài và làm bài tập, học sinh có thể tự rèn luyện kĩ năng tính cho mình.

     b- Hết lớp 3 học sinh đã có những kiến thức, kĩ năng cơ bản nhất về phép nhân, phép chia; tự mình có thể đặt tính và tính (nhân, chia) số có đến 5 chữ số với số có 1 chữ số.

     c- Học sinh biết vận dụng kĩ năng tính nhân, chia vào làm toán: tìm thành phần chưa biết, tìm giá trị biểu thức, giải toán có văn...

     d- Học sinh có kĩ năng tính nhanh, tính nhẩm các số tròn chục với số có 1 chữ số.

* Khó khăn:

      Khi thực hiện các phép tính nhân, chia ở lớp 3 học sinh thường gặp một số khó khăn, sai lầm sau:

a- Học phép nhân

     - Khi nhân số có nhiều chữ số với số có một chữ số có nhớ 2, 3....lần liên tục, học sinh thường chỉ nhớ lần đầu tiên mà quên không nhớ các lần tiếp theo.

x

    VD:                                          1719

                                                           4

                                                               4876

  - Trong phép nhân có nhớ nhiều hơn 1( nhớ 2, nhớ 3...) học sinh thường chỉ nhớ 1.

x

   VD:                                           2913

                                                           4

                                                             9652

=>Khắc phục: Đối với 2 lỗi trên, giáo viên cần khắc phục cho học sinh bằng cách: yêu cầu các em nhẩm thầm trong khi tính (vừa tính , vừa nhẩm) như phép tính mẫu trong sách giáo khoa và viết số cần nhớ ra lề phép tính.

  - Lúc đầu khi mới học nhân số có nhiều chữ số với số có một chữ số,học sinh còn hay sai trong cách ghi kết quả.

  VD:                                  

x

                                                  26

                                                    3

                                                618

=> Khắc phục: Ở đây, ta cần giải thích cho học sinh rằng: Nừu làm như vậy thì tích có tới 61 chục, nhưng thực ra chỉ có 7 chục mà thôi. Vì:

     + Ở lượt nhân thú nhất: 3 nhân 6 đơn vị được 18 đơn vị, tức là 1 chục và 8 đơn vị, viết 8 ở cột đơn vị, còn 1 chục nhớ lại( ghi bên lề phép tính)để thêm vào kết quả lượt nhân thứ hai – nhân hàng chục.

     + ở lượt nhân thứ hai: 3 nhân 2 chục được 6 chục, thêm 1 chục đã nhớ là 7 chục, viết 7 ở cột chục.

      Giáo viên cũng có thể một lần nữa khẳng định tính đúng đắn của phép tính bằng cách: Phân tích từ số 26 = 2 chục + 6 đơn vị và hướng dẫn học sinh nhân bình thường theo hàng ngang rồi cộng các kết quả lại.

b- Học phép chia:

   - Học sinh thường ước lượng thương sai trong phép chia có dư nên dẫn đến tìm được số dư lớn hơn số chia và lại thực hiện chia số dư đó cho số chia. Cuối cùng, tìm được thương lớn hơn số chia.

2

1

6

2

431

8

09

89

3

  VD:                  

 

 

 

 

 

* Nguyên nhân của lỗi sai này là:

      - Do học sinh chưa nắm được quy tắc “ Số dư bao giờ cũng nhỏ hơn số chia

      - Học sinh không thuộc bảng nhân, bảng chia, kĩ năng trừ nhẩm để tìm số dư còn chưa tốt.

 *Để khắc phục sai lầm này:

    - Khi dạy học sinh cách ước lượng trong phép chia , cần lưu ý cho học sinh quy tắc trong phép chia có dư: “ Số dư bao giờ cũng nhỏ hơn số chia”.

    - Khi dạy về nhân, chia trong bảng, giáo viên cần yêu cầu học sinh phải học thật thuộc các bảng nhân, chia trước khi dạy chia viết.

   - Dạy cho học sinh làm tính chia phải được tiến hành từ dễ đến khó, theo từng bước một.

- Một sai lầm nữ thường thấy ở học sinh khi học chia viết là: Các em thường quên

chữ số “0” trong phép chia có chữ số “0” ở thương.

 

 *Nguyên nhân và cách khắc phục lỗi sai này:

     - Do học sinh không nắm được quy tắc thực hiện chia viết “có bao nhiêu lần chia thì có bấy nhiêu chữ số được viết ở thương ”. Giáo viên cũng cần lưu ý học sinh: Chỉ duy nhất trong lần chia đầu tiên là được lấy nhiều hơn một chữ số ở số bị chia để chia, còn các lần chia tiếp theo lấy từng chữ số để chia và khi lấy một chữ số để chia thì phải viết được một chữ số ở thương.

24

0

    - Bên cạnh đó, giáo viên cũng lưu ý học sinh nên viết đủ phép trừ ở các lượt chia như sau:

016

    VD:       816     4

 

 

     Hướng dẫn học sinh cách nhân khi thực hiện phép chia có dư trong mỗi lượt chia như sau:

   VD:   43 : 5

   Cách 1:Đếm ngược từ 43 cho đến khi gặp một tích( hoặc số bị chia) trong bảng nhân 5( chia 5) : 43 ; 42 ; 41 ; 40.

 40 : 5 = 8

 Vậy 43 : 5 = 8 ( dư 3 )

   Cách 2 : Tìm số lớn nhất( không vượt quá 43) trong các tích ( số bị chia) của bảng nhân ( chia 5) ta được 40 ; 40 : 5 = 8. Vậy 43 : 5 = 8 ( dư 3 )

                                               .......

      Nhìn chung, khi học nội dung về phép nhân, chia các số tự nhiên ở lớp 3, hầu hết học sinh đều nắm được kiến thức có kĩ năng nhân, chia. Những sai lầm trên đây chỉ xảy ra với một ít học sinh ở giai đoạn đầu học về nội dung này. Giáo viên cần lưu ý để có biện pháp giúp đỡ học sinh kịp thời.

    Sau khi đưa ra các cách khắc phục những sai lầm của học sinh tôi đã tiến hành kiểm tra ở lớp 3A và 3B ( sức học ngang nhau ) với nội dung như sau:

Bài 1: Đặt tính rồi tính.

        75  x  6               284  x  5                      309  x  4                   98  x  9

        36   :  7               284  :   5                      987  :   6                  219  :  2

Bài 2: Tìm X

                   X  x  5  =  275              X  :  6   =  98                  28  :  X  =  42  :  6

Bài 3 : Tính giá trị của biểu thức

               135  :  5  x  6                                                                    209  x  4   :  2

  Kết quả như sau :

Lớp /Điểm

Giỏi

Khá

T.Bình

Yêú

Đạt

3A

20

10

3

0

100%

3B

10

12

8

3

91%

    Như vậy cùng một dạng bài với sức học ngang nhau nhưng kết quả thu được lại khác nhau. Qua kết quả trên tôi không dám khẳng định phương pháp dạy học của mình là tuyệt đối song tôi thấy cũng có nhiều ưu điểm, thành công trong phương pháp dạy học mà tôi đã lựa chọn. Khi học sinh được hướng dẫn các cách thực hiện tính nhân, chia một cách hợp lý, các em sẽ tích cực hoạt động. Các em không chỉ đưa ra cách tính mà còn biết so sánh, có kĩ năng tính nhanh do đó chất lượng học sinh khá giỏi được nâng lên rõ rệt. Học sinh không những được khắc sâu kiến thức về tính toán mà còn có kĩ năng thực hiện các bài tập cụ thể, ở nhiều dạng khác nhau giúp các em tự tin, thích cực hơn trong học tập cũng như trong cuộc sống.

                                                                           Vũ Thị Thanh Hoa - GV khối 3

 

 
 
CÁC TIN KHÁC
Một vài kinh nghiệm khi dạy cảm thụ văn học
Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn Đạo đức - Lớp 1
Giúp học sinh học tốt môn Kĩ thuật lớp 4 - Phần kĩ thuật phục vụ
Kinh Nghiệm Giảng Dạy Phân Môn Tập Làm Văn Lớp 4
Sáng kiến kinh nghiệm - Lớp 1
Bàn về một dạng toán ở tiểu học
Sổ chứng cứ lớp 3
Quay trở lại
 
TIN MỚI
Video sân chim
Video sân chim
Liên hoan “Tiếng hát cán bộ, giáo viên trường Tiểu học Lê Hồng Phong” lần thứ nhất chào mừng Ngày nhà giáo Việt Nam 20 - 11
Hội thi Giáo viên dạy giỏi cấp trường năm học 2012 - 2013
Lê Hồng Phong- Ngôi trường mến yêu của em
Chương trình phát thanh măng non tuần 1 tháng 10 năm học 2012 - 2013
Những khuyết điểm kể trên là lỗi tại tôi
Lịch lên lớp bằng GAĐT - Khối 1 - Tuần 8
 
 
Ủy Ban Nhân Dân quận Ngô Quyền